Trao đổi

Kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri tại các kỳ họp trước chưa giải quyết xong; những kiến nghị trước và sau kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh         

đăng: 17:35, 16/12/2018; công bố ngày: 00:00, 14/12/2018; truy cập 374 lượt;

 

I. Về công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện của UBND tỉnh                                      

1. Việc thực hiện các kiến nghị tại Báo cáo kết quả giám sát số 73/BC-HĐND ngày 04/7/2018 của Thường trực HĐND tỉnh (BC số 73)

Sau kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo giám đốc các sở, thủ trưởng các cơ quan, UBND các huyện, thành phố thực hiện các kiến nghị của Thường trực HĐND tỉnh tại Báo cáo số 73, yêu cầu nghiêm túc tuân thủ Quy chế tiếp nhận, giải quyết và trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang (Công văn số 2518/UBND-TH ngày 31/7/2018), xác định việc giải quyết kiến nghị của cử tri là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm và là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Song song với đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo, đôn đốc Văn phòng UBND tỉnh tham mưu phân loại kiến nghị của cử tri để giao cho các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền trả lời, giải quyết nhằm đảm bảo thời gian, tiến độ theo quy định, đồng thời theo dõi, chủ trì công tác phối hợp với các ngành, các đơn vị  trong kiểm tra thực tế kết quả giải quyết các kiến nghị của cử tri.

2. Đối với các kiến nghị chưa giải quyết xong từ các kỳ họp trước và các kiến nghị trước, sau kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh

- Sau khi rà soát, UBND tỉnh đã xác định có 25 kiến nghị (lĩnh vực pháp chế: 01 kiến nghị, lĩnh vực kinh tế - ngân sách 24 kiến nghị ) thuộc các kỳ họp trước cần được tiếp tục chỉ đạo và đôn đốc, kiểm tra tiến độ, kết quả giải quyết.

- Đối với 91 kiến nghị của cử tri trước, sau kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh (Báo cáo số 74/BC-HĐND ngày 04/7/2018, Báo cáo số 89/BC-HĐND ngày 27/8/2018), UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị xem xét, giải quyết cụ thể như sau:

Phân loại theo lĩnh vực:

+ Lĩnh vực pháp chế: 03 kiến nghị(giảm 06 kiến nghị so với kỳ họp thứ 4);

+ Lĩnh vực kinh tế - ngân sách: 75 kiến nghị (tăng 03 kiến nghị so với kỳ họp thứ 4);

+ Lĩnh vực văn hóa - xã hội: 13 kiến nghị (tăng 02 kiến nghị so với kỳ họp thứ 4).

Phân loại theo thẩm quyền giải quyết:

+ Thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh: 79 kiến nghị;

+ Thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND các huyện, thành phố: 12 kiến nghị.

Hầu hết các kiến nghị của cử tri tập trung ở lĩnh vực: Đất đai, nông nghiệp, nông thôn, giao thông, đầu tư xây dựng cơ bản, xử lý ô nhiễm môi trường, chính sách xã hội...

3. Nhận xét chung

Sau khi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 có hiệu lực thi hành và 01 năm thực hiện Quy chế tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri, dưới sự chỉ đạo, điều hành nghiêm túc, trách nhiệm của UBND tỉnh, chất lượng xem xét, trả lời và giải quyết các kiến nghị của cử tri được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ các kiến nghị được giải quyết cao hơn so với cùng kỳ năm trước, tạo niềm tin, sự phấn khởi của cử tri đối với chính quyền, được dư luận nhân dân đánh giá cao. Những kiến nghị của Thường trực HĐND tỉnh được UBND tỉnh nghiêm túc tiếp thu và chỉ đạo thực hiện đạt hiệu quả.

II. Kết quả giải quyết

1. Đối với 25 kiến nghị từ các kỳ họp trước

1.1. Theo báo cáo số 139 của UBND tỉnh có 09 kiến nghị đã được giải quyết xong (đạt 36%), trong đó lĩnh vực pháp chế: 01 kiến nghị, lĩnh vực kinh tế và ngân sách: 08 kiến nghị (Biểu số 02).

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế của các Ban, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh, có một số nội dung đề nghị UBND tỉnh kiểm tra, xem xét, cụ thể:

+ Cử tri huyện Lạng Giang, Yên Thế, Hiệp Hòa đề nghị sớm hỗ trợ kinh phí làm nhà ở cho người có công với cách mạng (Biểu số 2, mục II, câu 1). Khảo sát của Tổ đại biểu HĐND tỉnh, khu vực huyện Lạng Giang cho thấy số liệu báo cáo không khớp với số liệu của Ban chỉ đạo hỗ trợ nhà ở cho người có công của huyện Lạng Giang (về tổng kinh phí và tổng số hộ được nhận hỗ trợ).

+ Cử tri các xã: Ngọc Sơn, Hoàng Thanh (huyện Hiệp Hòa), đề nghị xử lý và khắc phục đường tỉnh 295 do xuống cấp nghiêm trọng và hệ thống cống thủy lợi đi qua đường của thôn Ngọc Thành đã bị sập và hư hỏng nặng (Biểu số 2, mục II, câu 3). Khảo sát của Tổ đại biểu HĐND tỉnh, khu vực huyện Hiệp Hòa cho thấy cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh trả lời chưa chính xác. Thực tế mặt đường vẫn bị xuống cấp nghiêm trọng, cử tri rất bức xúc.

+ Cử tri huyện Yên Thế, Lục Ngạn đề nghị lắp đặt biển báo và gờ giảm tốc tại một số khu vực chợ, trường học trên địa bàn(Biểu số 2, mục II, câu 4). Khảo sát của Tổ đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn cho thấy, tại trường mầm non xã Tân Sơn mới lặp đặt biển báo, gờ giảm tốc chưa thực hiện.

+ Cử tri xã Bình Sơn, huyện Lục Nam, đề nghị xây dựng cống thoát nước kết nối với đường 293 (Biểu số 2, mục II, câu 6). Khảo sát của Tổ đại biểu HĐND tỉnh, khu vực huyện Lục Nam cho thấy: Tại đỉnh dốc Đèo Me (xã Trường Sơn), bề mặt bê tông không nhẵn, lộ rõ đá xanh; tại điểm đấu nối với đường vào thôn Đồng Giàng (chân dốc Nhân Lý), không có rãnh thoát nước. Ngoài ra tại khu dân cư Đồng Đỉnh, nhiều tấm đan đậy rãnh thoát nước bị vỡ, sập.

+ Cử tri xã Đông Hưng, huyện Lục Nam đề nghị sửa chữa, nâng cấp tuyến đường từ UBND xã đi chợ Kim (Biểu số 2, mục II, câu 8). Khảo sát cho thấy: Mặt đường tại một số điểm bị lún, nứt; đoạn đường thuộc địa phận xã Quý Sơn (Lục Ngạn), điểm giáp ranh với xã Đông Hưng đi chợ Kim bị xuống cấp nặng, gây nguy hiểm cho các phương tiện tham gia giao thông.

+ Cử tri xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, đề nghị khắc phục hạn chế của Cống Cầu Đấp của thôn Hạ. Tại các kỳ họp trước, Sở Giao thông vận tải trả lời sẽ nâng cấp trong quý IV/2017 (Biểu số 2, mục II, câu 7). Khảo sát của Tổ đại biểu HĐND tỉnh, khu vực huyện Lạng Giang cho thấy: Cống Cầu Đấp chưa được sửa chữa, mưa to vẫn gây ngập úng cục bộ.

1.2. Theo báo cáo số 139, có 16 kiến nghị thuộc lĩnh vực kinh tế - ngân sách đang được giải quyết (Biểu số 03).

- Thường trực HĐND tỉnh nhất trí với nhận định, đánh giá tại các báo cáo về kết quả khảo sát, thẩm tra của Ban Kinh tế và Ngân sách, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh: Số lượng các kiến nghị từ các kỳ họp trước chưa được giải quyết xong còn nhiều, chiếm tới 64%, trong đó có nhiều kiến nghị triển khai chậm, cử tri kiến nghị nhiều kỳ, ví dụ: Cử tri huyện Hiệp Hòa đề nghị sửa chữa nâng cấp đường tỉnh lộ 288, mặt đường một số tuyến đê do đã bị hư hỏng nặng (Biểu số 3, mục I, câu 2, điểm 2 và câu 6).

- Chưa thực hiện đúng tiến độ như đã cam kết, thay đổi thời gian hoàn thành nhiều lần, cụ thể: UBND tỉnh trả lời cử tri huyện Hiệp Hòa sẽ hoàn thành nhà máy nước thôn Mai Trung, xã Mai Đình trong tháng 9/2018 (Báo cáo số 139/BC-UBND ngày 25/10/2017), tháng 9/2019 (Báo cáo số 62/BC-UBND ngày 29/5/2017) và tháng 12/2019 (Báo cáo số 139/BC-UBND ngày 24/10/2018 - Biểu số 3, mục I, câu 1).  

(Nội dung, kết quả giải quyết của UBND tỉnh và  ý kiến của các Ban, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh tại Biểu số 03 kèm theo).

2. Đối với 91 kiến nghị trước và sau kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh

          Thường trực HĐND tỉnh cơ bản nhất trí với Báo cáo số 139 kèm theo các biểu của UBND tỉnh trong việc phân loại, trả lời và giải quyết các kiến nghị. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các văn bản hiện hành và khảo sát thực tế của các Ban, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh xem xét bổ sung, làm rõ và điều chỉnh một số nội dung cụ thể sau:

2.1. Đối với các kiến nghị đã được giải quyết

- Tại thời điểm khảo sát thực tế, một số nội dung vẫn đang thực hiện chưa xong, chất lượng một số công trình chưa đảm bảo, thậm chí có những kiến nghị chưa được thực hiện, cụ thể:

+ Việc sửa chữa đoạn kênh Giữa, đi qua xã Đồng Lạc, huyện Yên Thế vẫn chưa đảm bảo, chất lượng kém, vẫn bị rạn nứt và bục vỡ; đoạn qua nhà 04 hộ dân thôn Tiếu vẫn chưa lắp đặt tấm đan, gây nguy hiểm cho người và vật nuôi (Biểu số 04 , mục II, câu 4).

+ Việc cứng hóa 238m kênh 2, đoạn chảy qua xã Đồng Tâm, huyện Hiệp Hòa, chưa hoàn thành (Biểu số 04 , mục II, câu 5).

Tuyến kênh KC1, đoạn qua thôn Tân Tiến, thôn Yên Bắc, xã Đông Phú, huyện Lục Nam, lòng kênh bùn dầy 20-30cm chưa được nạo vét (Biểu số 04 , mục II, câu 8).

+ Việc làm gờ giảm tốc tại các địa điểm giao cắt theo kiến nghị cử tri xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, chưa được thực hiện (Biểu số 04, mục II, câu 10); việc lắp đặt biển báo, đèn báo tại một số điểm giao cắt giữa tuyến QL 37, đường 298 với một số tuyến đường giao thông vào thôn My Điền, đường rẽ đi chùa Bổ Đà,... của huyện Việt Yên chưa được thực hiện (Biểu số 04 , mục II, câu 13).

- Nội dung trả lời chưa đúng, chưa thỏa đáng với kiến nghị cử tri (cử tri đề nghị làm lại hệ thống rãnh dọc để nước thoát từ ngã tư Ngô Xá chảy xuôi về phía đi huyện Việt Yên, vì thiết kế hiện tại không phù hợp với dòng chảy tự nhiên, gây xung đột trong thoát nước tại ngã tư Ngô Xá - Biểu số 04 , mục II, câu 12).

2.2. Đối với các kiến nghị đang được xem xét, giải quyết

- Có một số kiến nghị UBND tỉnh dự kiến hoàn thành trong tháng 11/2018 nhưng qua khảo sát của các Tổ đại biểu HĐND tỉnh, vẫn chưa được xử lý, giải quyết, cụ thể:

+ Điểm cống khu vực Km2+800 thôn Cổ Mân, Km2+600, thôn 11, xã Yên Sơn (Biểu số 05, mục I, câu 02).

+ Đoạn đường từ Cầu Mè đi Mia, từ Yên Mỹ đi An Hà (Biểu số 05, mục I, câu 08).

+ Việc Công ty TNHH Á Cường hoàn nguyên môi trường (Biểu số 05, mục I, câu 11).

+ Bổ sung gờ giảm tốc tại vị trí đường cong gần Cầu Rô, xã Bắc Lý (Biểu số 05, mục I, câu 18).

 (Nội dung, kết quả giải quyết của UBND tỉnh và ý kiến của các Ban, các Tổ ĐB HĐND tỉnh tại Biểu số 05 kèm theo).

2.3. Đối với các kiến nghị sẽ được xem xét, giải quyết; các kiến nghị để giải trình, thông tin

- Thường trực HĐND tỉnh cơ bản nhất trí với Báo cáo số 139 của UBND tỉnh, tuy nhiên có một số nội dung trả lời chưa thỏa đáng, chưa trả lời đúng thực tế vấn đề cử tri nêu, cụ thể:

+ Tình trạng thiếu giáo viên bộ môn Tiếng Anh và Tin học trên địa bàn huyện Lục Ngạn (Biểu 06, mục III, câu 1).

+ Kiểm tra, xem xét và thu hồi giấy phép khai thác cát, sỏi lòng sông Lục Nam của Công ty TNHH Thành Thảo vì gây sạt lở đất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường và sản xuất của nhân dân (Biểu 07, mục II, câu 21). Kết quả khảo sát của Tổ đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Nam cho thấy, tại thời điểm Đoàn khảo sát đến, có nhiều tàu hút cát tại thôn Vườn, xã Cương Sơn, nhiều điểm sạt, lở ăn sâu vào ruộng, bãi của nhân dân. Đoạn sông này trong phạm vi cấp phép cho Công ty TNHH Thành Thảo.

+ Danh mục thuốc cấp cho bệnh nhân BHYT rất hạn chế, không đủ theo toa bác sĩ kê, người bệnh phải mua thêm thuốc bên ngoài (Biểu 07, mục III, câu 4).

 (Nội dung, kết quả giải quyết của UBND tỉnh và  ý kiến của các Ban HĐND tỉnh tại Biểu số 06, 07 kèm theo).

III. Đánh giá chung

1. Ưu điểm

Công tác chỉ đạo giải quyết kiến nghị của cử tri được UBND tỉnh thực hiện nghiêm túc trên tinh thần giải quyết đến cùng, dứt điểm. Xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cho nên sau khi tiếp nhận các kiến nghị của cử tri do Thường trực HĐND tỉnh chuyển đến, UBND tỉnh đã chỉ đạo kịp thời, phân công nhiệm vụ, giao trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, từng đơn vị, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ giải quyết kiến nghị của cử tri. UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo giải quyết, sát sao trong công tác kiểm tra. Thủ trưởng các ngành, các cơ quan, đơn vị chấp hành nghiêm Quy chế tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri, do đó kết quả giải quyết các kiến nghị của cử tri đạt cao hơn kỳ trước cả về số lượng và chất lượng, được cử tri ghi nhận, đánh giá cao.

- Thường trực HĐND tỉnh thống nhất đánh giá cao công tác chỉ đạo giải quyết kiến nghị của cử tri qua Báo cáo số 139 của UBND tỉnh, 100% các kiến nghị đã được xem xét. Việc tổng hợp, phân loại kiến nghị cử tri được thực hiện đầy đủ, kịp thời, cơ bản rõ ràng.

- Công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát được tăng cường hơn; đã đề ra các giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập, vướng mắc trong thực tiễn mà cử tri kiến nghị như: Đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản, an toàn giao thông…; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương trong giải quyết kiến nghị của cử tri chặt chẽ hơn, trách nhiệm cao hơn.

- Kết quả giải quyết các kiến nghị của cử tri đều được báo cáo, giải trình tại kỳ họp HĐND tỉnh, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở UBND các xã, phường, thị trấn nơi cử tri có kiến nghị, qua đó thông tin kịp thời đến các đại biểu và cử tri, tạo hiệu ứng tốt trong nhân dân.

2. Tồn tại, hạn chế

- Công tác rà soát, phân loại các kiến nghị của cử tri một số nội dung đã giải quyết, đang giải quyết, sẽ giải quyết, không có điều kiện giải quyết và có tính chất thông tin, giải trình còn chưa chính xác, chưa phù hợp thực tế.

- Công tác kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của cử tri còn chưa thường xuyên. Chất lượng giải quyết một số nội dung kiến nghị của cử tri chưa đảm bảo, nhiều nội dung báo cáo chưa rõ, chưa đúng, chưa chính xác so với thực tế, chưa trúng với nội dung kiến nghị của cử tri, còn trả lời chung chung, chưa thuyết phục. Một số kiến nghị sẽ giải quyết chưa xác định rõ lộ trình, thời gian giải quyết.

- Thủ trưởng một số ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ, chưa xác định rõ trách nhiệm trong việc giải quyết kiến nghị của cử tri.

- Một số kiến nghị tồn tại nhiều kỳ nhưng chưa được tập trung giải quyết dứt điểm, tiến độ giải quyết chậm, chất lượng giải quyết chưa cao, cử tri vẫn tiếp tục có ý kiến (lĩnh vực giao thông, môi trường, điện, nước phục vụ nhân dân).

- Công tác phối hợp giữa các ngành, địa phương trong giải quyết kiến nghị của cử tri còn chưa chặt chẽ, thiếu sâu sát, cụ thể.

IV. KIẾN NGHỊ

1. Đối với UBND tỉnh

- Đề nghị UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngành, UBND các huyện, thành phố quan tâm sâu sát hơn nữa đến công tác giải quyết kiến nghị của cử tri, gắn trách nhiệm cụ thể với công việc được giao, đồng thời xác định việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm và là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

- Nghiên cứu, tiếp thu các kiến nghị trong Báo cáo thẩm tra của các Ban của HĐND tỉnh.

- Tập trung xem xét, giải quyết dứt điểm các kiến nghị còn tồn đọng từ các kỳ họp trước chưa giải quyết xong, nhất là các kiến nghị cấp thiết gắn với cuộc sống dân sinh thường ngày của nhân dân như: đất đai, môi trường, kết cấu hạ tầng giao thông,...

- Làm tốt công tác tổng hợp, phân loại kiến nghị của cử tri, phân công nhiệm vụ kịp thời cho các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền trả lời, giải quyết nhằm đảm bảo đúng thời gian, tiến độ giải quyết; chấn chỉnh việc tổng hợp kết quả giải quyết đảm bảo sát, đúng với thực tế.

- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các ngành, các huyện, thành phố trong trả lời, giải quyết kiến nghị của cử tri.

- Tính toán lại tỷ lệ % số liệu các kiến nghị trong các biểu mẫu trên cơ sở đã rà soát, sắp xếp phân loại đúng thực tế các nội dung trong Báo cáo số 139 để đánh giá đúng tình hình giải quyết kiến nghị của cử tri; Xác định rõ lộ trình, thời gian giải quyết cụ thể đối với các nội dung sẽ giải quyết trong thời gian tới.

2. Đối với đại biểu HĐND tỉnh và các Tổ đại biểu HĐND tỉnh

- Tích cực nghiên cứu chính sách, pháp luật, nâng cao trình độ trên cơ sở đó nâng cao chất lượng công tác tiếp xúc cử tri, làm tốt công tác tuyên truyền trả lời, giải đáp kiến nghị của cử tri ngay tại các cuộc tiếp xúc cử tri.

- Làm tốt việc tổng hợp, phân loại ý kiến, kiến nghị phản ảnh đầy đủ, chính xác ý kiến, kiến nghị của cử tri và chuyển đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tạo điều kiện để việc giải quyết ý kiến, kiến nghị kịp thời hơn, chính xác hơn.

- Chủ động, tích cực, thường xuyên giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri của các cấp chính quyền.

 

Tổ Thư ký BBT

 

Tin khác


    Lên đầu trang